Thông tin về dược liệu Ích mẫu
ÍCH MẪU
Tên thường gọi: Ích mẫu thảo, sung úy, chói đèn.Tên khoa học: Leonurus heterophyllus Sw.Thuộc họ hoa môi: Lamiaceae
Cây Ích Mẫu cung cấp cho 2 vị thuốc:
1.Ích mẫu hay Ích mẫu thảo (Herba Leonuri) là toàn bộ phận trên mặt đất phơi hay sấy khô của cây ích mẫu.2.Sung úy tử (Fructus Leonuri) phơi hay sấy khô của cây ích mẫu. Nhiều người vẫn gọi nhầm là hạt ích mẫu.
Phân biệt với cây Leonurus sibiricus L. cũng có ở Việt Nam nhưng ít phổ biến hơn.
A. Mô tả cây
Cây ích mẫu có tên như vậy vì nó có ích cho người mẹ. Cây ích mẫu giống đuôi con sư tử có lá hình dạng biến đổi.
Ích mẫu là một loại cỏ sống 1-2 năm, cao 0,6-1m, thân hình vuông, ít phân nhánh, toàn thân có phủ lông nhỏ ngắn. Lá mọc đối, tùy theo lá mọc ở gốc, giữa thân hay đàu cành mà có hình dạng khác nhau. Lá ở gốc có cuống dài, phiến lá hình tim, mép có răng cưa thô và sâu; lá ở thân có cuống ngắn hơn, phiến lá thường xẻ sâu thành 3 thùy, trên mỗi thùy lại có răng cưa thưa; lá trên cùng phần lớn không chia thùy và hầu như không cuống. Hoa mọc ở kẽ lá. Tràng hoa màu hồng hay tím hồng, xẻ thành 2 môi gần đều nhau, tràng hoa dài từ 9-12mm, môi trên môi dưới gần bằng nhau (so sánh với Leonurus sibiricus L.; tràng hoa dài 15-20mm, môi dưới ngắn hơn môi trên) . Quả nhỏ 3 cạnh, vỏ màu xám nâu.
Hình Cây ích mẫu
Ngoài cây ích mẫu đã mô tả trên ta còn có cây Leonurus sibiricus L. (còn gọi là cây ích mẫu hoa to) vì cây này khác cây ích mẫu ở trên là hoa to hơn, dài hơn, lá ở phía trên vẫn chia làm 3 thùy.
B. Phân phối thu hái và chế biến
Ích mẫu hiện nay chủ yếu mọc hoang, thường thấy ở ven suối, ven sông nơi đất cát, còn mọc hoang ở ruộng hoang, ven đường. Gần đây có một số nơi đã bắt đầu trồng để làm thuốc, nhưng chưa có ai tổng kết cách trồng nào để có hiệu xuất cao nhất.Một số kinh nghiệm khi trồng tại Nam Xuyên Trung Quốc:
-Ích mẫu mùa đông cần trồng vào mùa thu.-Ích mẫu mùa Xuân gieo trồng vào mùa xuân hay mùa thu.
-Ích mẫu mùa hạ cũng có thể gieo trồng vào mùa xuân hay mùa thu.
-Ích mẫu mùa hạ cho hiệu xuất cao nhất ( 9 tấn khô / 1 hecta) nhưng phải trồng tới 10 tháng.
-Ích mẫu mùa đông và mùa xuân cho hiệu suất thấp hơn (4-6 tấn/hecta) nhưng thời gian trồng chỉ cần 8 tháng.
-Gieo hạt thẳng thành luống, mỗi luống cách nhau 17cm,trên mỗi luống cây nọ cách cây kia 7cm cho sản lượng cao nhất.
-Khi trồng cần trộn hạt với tro bếp.
-Vào khoảng tháng 5-6, lúc một nữa số hoa của cây bắt đầu nở thì bắt đầu thu hái. Đem về phơi hay sấy khô đều được. Nếu muốn thu hoạch hạt hay quả thì cần chờ khi hoa trên cây đã tàn hết, thu hoạch đến đâu dũ hết quả đến đó.
-Mùa thu hoạch cây: tháng 5-9. Mùa thu hoạch quả: tháng 8-10.
C. Thành phần hóa học
-Cây ích mẫu Leonurus heterophyllus Sw. Sơ bộ thấy phản ứng ancaloit và tanin (7-8%), flavonozit.Từ cây Ích mẫu Leonurus sibiricus L. , các nhà nghiên cứu Nhật bản (Nhật Bản dược vật học tạp chí 1930, tr. 153-158) đã chiết được 0,05% ancaloit gọi là leonurin C13H19O4N4 có độ chảy 2380C.
Năm 1958, một số tác giả khác (Bắc Kinh y học viện báo chí kỳ I) đã chiết xuất từ ích mẫu mẫu Leonurus sibiricus 5 chất có tinh thể: 2 chất đầu là ancaloit gọi là Leonurin A: C20H32O10N6 có độ chảy 229-2300 C, Leonurin B: C14H24O7N4 và 3 chất sau không phải là ancaloit.
Một số nghiên cứu khác còn phát hiện ra ancaloit là Leonuridin.
Như vậy ancaolit chính trong ích mẫu có thể nói đó là Leonurin.
Tỷ lệ ancaloit cao nhất là vào tháng 5 sau đó giảm xuống. Ngoài ra ích mẫu còn có tanin, chất đắng , saponin và 0,03% tinh dầu.
-Hoạt chất của ích mẫu trên cơ sở dược lý: Thấy có 2 loại hoạt chất. Một loại chất tan trong ete có tác dụng ức chế tử cung, một loại hoạt chất không tan trong ete có tác dụng kích thích tử cung.
Gần đây người ta thấy trong ích mẫu có 3 Flavonozit, một trong số flavonozit được xác định là rutin, một ít tanin, trong toàn cây có leocacdin cùng cấu trúc với stachydrin, một ít tinh dầu. Ancaloit không có tác dụng chữa bệnh.
D. Tác dụng dược lý
1.Tác dụng trên tử cung.
Nước sắc ích mẫu Leonurus sibiricus 1/5.000 hay 1/1000 có tác dụng kích thích đối với tử cung cô lập của thỏ cái ( dù có thai hay không có thai cũng vậy).Thỏ cái gây mê bằng uretan rồi cho uống nước sắc ích mẫu cũng có tác dụng kích thích trên tử cung tại chỗ của thỏ.Dung dịch nước 10% ích mẫu khô có tác dụng mạnh hơn là dung dịch rượu 20%.
Tác dụng của ích mẫu trên tử cung cũng giống như tác dụng của cựa lõa mạch (claviceps purpurea).
Điều đáng chú ý là dung dịch rượu hay là dung dịch nước ích mẫu tác dụng lên tử cung thì bắt đầu có một giai đoạn hưng phấn.
Nếu trước khi sắc ích mẫu, dùng ete để loại phần tan trong ete đi thì hiện tượng ức chế tử cung cũng không thấy nữa.
2.Tác dụng trên huyết áp
Nước sắc ích mẫu tuy không tác dụng trực tiếp lên huyết áp nhưng làm giảm tác dụng của adrenalin trên mạch máu.Cao ích mẫu làm giảm huyết áp, nhất là đối với thời kỳ đầu của bệnh cao huyết áp.
3.Tác dụng lên tim mạch
Loài ích mẫu Leonurus quinquelobatus và Leonurus cardia có tác dụng tốt trên tim mạch và đối với cơ tim có bệnh.4. Tác dụng lên hệ thần kinh
Ích mấu Leonurus sibiricus mạnh hơn của Valerian và của Muyghe (Convallaria maialis).5.Tác dụng kháng sinh đối với một số vi trùng ngoài da.
Theo Tạp chí Trung Hoa bì phụ khoa ( số 4-1957, tr 286-292), một số tác giả nghiên cứu cho thấy nước chiết ích mẫu 1:4 có tác dụng ức chế đối với một số vi khuẩn gây bệnh ngoài da.6. Tác dụng trên viêm thận và phù cấp tính
Trên lâm sàng ích mẫu chữa khỏi một số trường hợp viêm thận và phù (Trung Y tạp chí số 6, 1959 và trung y dược 1966 kỳ 4 , 26).E. Công dụng và điều trị
Từ lâu ích mẫu được nhân dân ta dùng để chữa bệnh phụ nữ, nhất là phụ nữ sau khi sinh nỡ, do đó có câu ca dao:Nhân trần, ích mẫu đi đâu
Để cho gái đẻ đớn đau thế này?
Thường ích mẫu dùng cho trường hợp đẻ xong bị rong huyết ( cầm máu tử cung), chữa viêm niêm mạc dạ con, kinh nguyệt quá nhiều.
Còn dùng chữa cao huyết áp, thuốc bổ huyết, các bệnh về tuần hoàn cơ tim, thần kinh tim, chữa chứng tim hẹp nhẹ( stenocardie), chữa lỵ.
Quả ích mẫu dùng với tên sung úy tử làm thuốc thông tiểu, chữa phù thũng, thiên đầu thống (glôcôm).
Dùng ngoài thân và quả ích mẫu giã đắp hay sắc lấy nước rửa chữa một số bệnh như sưng vú , chốc đầu , lỡ ngứa.
Theo sách cổ , ích mẫu có tính chất: vị cay, tính hơi hàn, có khả năng trục ứ huyết , sinh huyết mới, hoạt huyết điều kinh , những người có đồng tử mở rộng không dùng được (--> không được dùng với thuốc gây giãn đồng tử).
Liều dùng hằng ngày từ 6-12 g dưới dạng thuốc sắc hay nấu thành cao. Quả ích mẫu dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.
F.Các đơn thuốc có ích mẫu
-Cao ích mẫu:
Cây ích mẫu nấu với nước , cô đặc thành cao mềm. Trước đây người dân hay dùng loại cao này.Cao ích mẫu bán trên thị trường hiện nay thường phối hợp với nhiều vị khác nhau: Ví dụ ở Thanh Hóa có loại cao như sau: Ích mẫu nước 800g, ngải diệp 200g, hương phụ tứ chế 250g.
Cao ích mẫu hiện nay được thống nhất theo đơn: Ích mẫu 800g, ngải cứu 200g, hương phụ 250g, tá dược (xiro, cồn 15 độ) vừa đủ 1000g.
-Cao Hương ngải:
Hương phụ, ngải cứu , ích mẫu , lá bạch đồng nữ mỗi thứ 1g, thêm nước vào sắc kỹ , cô đến còn 10ml, thêm đường vào đủ ngọt.Đóng vào ống 10ml, hàn và hấp tiệt trùng ( đun sôi và giữ sôi trong 1 giờ). Thuốc có thể bảo quản trong nhiều năm không hỏng. Điều trị: kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng , khó sinh nỡ, khí hư bạch đới. Ngày uống từ 3-6 ống . Muốn cho kinh nguyệt đều uống đón kinh, 10 ngày trước khí dự đoán có kinh. Uống luôn như vậy trong 2 hay 3 tháng, có thể dùng lâu hơn. Đơn do giáo sư Đỗ Tất Lợi xây dựng và năm 1946, tên FUNUX hay CYPERIN, HƯƠNG NGẢI.Thuốc đã được thử nghiệm lâm sàng có tác dụng thông kinh rõ rệt.
Tham Khảo: Theo Đỗ Tất Lợi 2004, tr. 30-32, những cây thuốc và vị thuốc việt nam.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét